Virbac Vietnam

Tính an toàn tương đối của vaccine phòng pcv2 trong điều kiện thực địa

Điểm 0 (0 Bình chọn)

Tính an toàn tương đối của vaccine phòng pcv2 trong điều kiện thực địa

Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh tính an toàn của vaccine PCV2 mới phát triển so với vaccine đang có sẵn tại thị trường Đài Loan

Bình chọn cho nội dung này: 5 4 3 2 1

PCV2 thể cận lâm sàng, ác mộng của nhà chăn nuôi

Lời giới thiệu

Chủng ngừa PCV2 cho heo con xung quanh giai đoạn cai sữa được áp dụng rộng rãi nhờ vào hiệu quả trong giai đoạn cai sữa đến xuất thịt (kiểm soát tỷ lệ tử vong và thiệt hại tăng trưởng do cảm nhiễm PCV2).

Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh tính an toàn của vaccine PCV2 mới phát triển so với vaccine đang có sẵn tại thị trường Đài Loan.

Vật liệu và phương pháp

Hai trăm heo 03 tuần tuổi tại mô hình trại nuôi heo từ nái đến xuất thịt được phân loại và cân từng cá thể trước khi đưa vào thí nghiệm. Toàn bộ heo phải đều khỏe mạnh và có trọng lượng tối thiểu 4 kg. Heo được sắp xếp ngẫu nhiên, theo lứa đẻ của nái, giới tính và trọng lượng heo con, vào 03 nhóm, với 90 heo (nhóm T), 90 heo (nhóm C) và 20 heo (nhóm P). Heo con nhóm T được chủng ngừa với vaccine bất hoạt toàn virus PCV2d (Suigen PCV2, Virbac, 1ml/heo con – đường tiêm bắp), heo con nhóm C được chủng ngừa với vaccine tiểu phần PCV2 (2ml/heo con – đường tiêm bắp),

 

heo con nhóm P được tiêm nước muối sinh lý (2ml/heo con – đường tiêm bắp). Toàn bộ heo được kiểm tra hằng ngày về phản ứng cục bộ và toàn thân, trong vòng 03 tuần (01 tuần trước khi tiêm và 02 tuần sau khi tiêm ở giai đoạn cai sữa). Trọng lượng cơ thể và tỷ lệ giới tính của heo tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm được so sánh giữa các nhóm theo thứ tự dựa theo phương thức Kruskal-Wallis & Chi-square. Phản ứng cục bộ và toàn thân được so sánh từng đôi dựa trên phương thức Fisher.

Kết quả

Trọng lượng cơ thể và giới tính tại thời điểm chủng ngừa không có sự khác biệt giữa các nhóm (trọng lượng trung bình trong khoảng 6,3kg và 6,6kg). Phản ứng cục bộ tại vị trí tiêm chủng bao gồm tình trạng sưng phồng hay nổi ban đỏ được ghi nhận trên 31 heo trong vòng 03 tuần sau tiêm. Tần suất của những phản ứng này được ghi nhận cao hơn ở nhóm C so với nhóm P hay nhóm T. Phản ứng toàn thân được ghi nhận duy nhất trên 02 heo của nhóm C với biểu hiện yếu ớt và thở khó ngay trong ngày chủng ngừa (không có sự khác biệt giữa các nhóm).

 

VN picture 1.PNG

Kết luận

Sự khác nhau về tần suất xuất hiện phản ứng cục bộ trên heo giữa hai vaccine có thể do khác biệt về công thức vaccine. Vaccine PCV2 chứa virus bất hoạt toàn phần với hệ nhũ tương nước/dầu/nước (W/O/W), chất bổ trợ phổ biến được sử dụng cho các vaccine virus khác (1-2). Loại nhũ tương này có tính nhớt thấp và có khả năng kích thích sự sản sinh kháng thể nhanh chóng và kéo dài (3). Nói chung, vaccine thử nghiệm được xác nhận là an toàn trong điều kiện thực địa, không gây phản ứng cục bộ, điều được xem là cần thiết cho phúc lợi động vật và năng suất tăng trưởng.

Nguồn tham khảo:

  1. Park JH et al., 2013. Clin Exp Vaccines Res 2, 8-18

  2. Gu Z et al., 2015. Virus Research 195, 57-63

  3. Aucouturier J et al., 2001. Vaccine 19, 2666-2672